Nâng chuẩn chung
Theo ông Nguyễn Hoài Bảo, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Mỹ nghệ và Chế biến Gỗ TP.HCM (HAWA), năng lực sản xuất và quản trị của doanh nghiệp gỗ Việt Nam đã được thị trường quốc tế kiểm chứng. Riêng 8 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đạt hơn 11,8 tỷ USD, tăng 6% so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, với hơn 100 triệu dân, tốc độ đô thị hóa nhanh, nhu cầu ngày càng lớn về nhà ở, xây dựng, không gian sống, thị trường nội địa cần được nhìn nhận như một trụ cột tăng trưởng dài hạn, thay vì chỉ là kênh tiêu thụ bổ sung. Theo ông Bảo, để hình thành một thị trường đủ mạnh, sản phẩm không chỉ cần đẹp, tốt mà phải có chuẩn mực rõ ràng về nguồn gốc gỗ, tính hợp pháp, chất lượng và độ an toàn. Điều này đòi hỏi sự tham gia của cả hệ sinh thái, từ sản xuất, cung ứng nguyên liệu, phân phối, thương mại điện tử, kiến trúc - xây dựng đến hiệp hội, cơ quan quản lý và người tiêu dùng.
Phân tích về quy mô thị trường, ông Ngô Sĩ Hoài, Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) cho rằng ngành gỗ cần thay đổi cách định vị thị trường trong nước, từ tư duy bán thêm sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái sử dụng gỗ hợp pháp, bền vững và có giá trị cao. Theo ông Hoài, chi tiêu bình quân cho sản phẩm gỗ và nội thất được ước tính khoảng 50 USD/người. Trong kịch bản GDP tăng trưởng hai con số, chi tiêu cho sản phẩm gỗ có thể tăng 7-9%/năm, cao hơn mức tăng cầu bình quân thế giới khoảng 6%. Từ quy mô khoảng 5 tỷ USD, thị trường gỗ nội địa có thể đạt 7-7,7 tỷ USD vào năm 2030, tiến gần mốc 8 tỷ USD mỗi năm.
Hội thảo “Thị trường gỗ nội địa - Chuẩn mực, hợp pháp,
chất lượng và bền vững” diễn ra trong
khuôn khổ VIBE 2026. Ảnh: Nguyễn Thủy
Gỗ hợp pháp
Các doanh nghiệp cho rằng, dù có sức cầu lớn, thị trường nội địa vẫn thiếu “hạ tầng thị trường”. Làng nghề, hộ sản xuất và doanh nghiệp nhỏ giữ vai trò quan trọng nhưng chưa có tiêu chuẩn chung. Mặt khác, người tiêu dùng khó tiếp cận đầy đủ thông tin về nguồn gốc gỗ, keo, sơn, phát thải formaldehyde, độ ẩm hay độ bền sản phẩm. Ông Nguyễn Vĩnh Nam, Phó Tổng Giám đốc điều hành Usofa cho rằng, sức ép cạnh tranh hiện nay không chỉ đến từ doanh nghiệp trong nước. Sản phẩm nội thất Trung Quốc rất đa dạng, đang thâm nhập mạnh vào Đông Nam Á thông qua bán hàng trực tuyến và hệ thống phân phối. Vì vậy, doanh nghiệp Việt khó có thể tự xoay xở riêng lẻ. Ông Nam đề xuất, các hiệp hội cùng xây dựng “sân chơi trên sân nhà”, trong khi Nhà nước cần đóng vai trò dẫn dắt bằng hệ thống tiêu chuẩn chung, giúp thị trường minh bạch hơn và người tiêu dùng dễ phân biệt chất lượng sản phẩm.
Là một trong những doanh nghiệp đã chuyển hướng từ xuất khẩu về thị trường nội địa, ông Nguyễn Minh Cương, Tổng Giám đốc Gỗ Minh Long nhấn mạnh, vật liệu tại Việt Nam chịu tác động lớn của độ ẩm, nhiệt và điều kiện môi trường, từ mùa nồm ở miền Bắc đến hơi muối vùng ven biển và sương mù ở khu vực đồi núi. Vì vậy, sản phẩm sử dụng tại Việt Nam cần những tiêu chuẩn, quy chuẩn đủ khắt khe phù hợp với điều kiện khí hậu trong nước. Bên cạnh đó, ông Cương khẳng định, sản phẩm nội thất Việt cần có bản sắc riêng. Không gian sống là “làn da thứ ba”, sau cơ thể và quần áo. Khi người tiêu dùng quan tâm hơn tới không gian sống, doanh nghiệp cũng phải nghiên cứu sâu về văn hóa, gia phong, phong tục vùng miền và phong cách cá nhân. Đây là cơ sở để nội thất Việt tạo giá trị riêng thay vì chỉ gia công.
Một mắt xích quan trọng khác là các làng nghề, nơi vẫn cung cấp lượng lớn đồ gỗ cho hộ gia đình. Theo ông Võ Quang Hà, Chủ tịch HĐQT Tavico Group, phương thức sản xuất truyền thống của làng nghề vốn phù hợp với gỗ rừng tự nhiên, trong khi chuyển sang gỗ rừng trồng và gỗ có chứng chỉ đòi hỏi đầu tư thêm về sấy, máy móc và công nghệ. Do đó, muốn chuyển đổi, làng nghề cần được hỗ trợ đồng thời về mặt bằng, công nghệ, máy móc, thiết bị và vốn. Quá trình này cần sự tham gia của Nhà nước, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp dẫn dắt và các tổ chức liên quan, chứ không thể giao cho một doanh nghiệp tự giải quyết.
Một giải pháp được các doanh nghiệp, hiệp hội đề cập là các chương trình mua sắm bằng ngân sách. Theo ông Ngô Sĩ Hoài, mỗi khoản mua sắm đồ gỗ, nội thất bằng ngân sách cần được xem như một “phiếu bầu” cho việc sử dụng gỗ hợp pháp và quản lý rừng bền vững. Nhà nước có thể đi tiên phong, qua đó từng bước đưa gỗ hợp pháp trở thành chuẩn tối thiểu của thị trường trong nước, thay vì chỉ là yêu cầu đối với hàng xuất khẩu. Đề xuất này cũng gắn với bài toán nguyên liệu. Việt Nam có khoảng 3 triệu ha rừng trồng, chủ yếu là keo, cùng gần 1 triệu ha cao su tiểu điền; mỗi năm có thể khai thác khoảng 4-5 triệu m³ gỗ cao su.