Chính phủ đã ban hành Nghị định số 180/2026/NĐ-CP quy định về dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng. Có hiệu lực từ ngày 15/7/2026, Nghị định quy định về đối tượng, hình thức chi trả, mức chi trả và quản lý, sử dụng tiền dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng; dự án các-bon rừng, xác định kết quả giảm phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon rừng được cung ứng.
Chủ rừng được hợp tác, liên kết với tổ chức, cá nhân thực hiện dự án các-bon rừng
Theo Nghị định, dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng là hoạt động cung ứng kết quả giảm phát thải khí nhà kính, tín chỉ các-bon rừng. Kết quả giảm phát thải khí nhà kính của rừng là lượng giảm phát thải khí nhà kính và lượng tăng hấp thụ các-bon của rừng tại thời điểm xác định so với thời điểm tham chiếu theo tiêu chuẩn các-bon rừng trong nước hoặc tiêu chuẩn các-bon rừng quốc tế, được tính bằng tấn CO2 hoặc tấn CO2 tương đương. Nghị định yêu cầu việc cung ứng và sử dụng dịch vụ này phải bảo đảm công khai, minh bạch, có trách nhiệm giải trình và hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, chủ rừng và các bên liên quan, đồng thời gắn với mục tiêu bảo vệ môi trường và bảo đảm quốc phòng, an ninh. Hoạt động giao dịch các-bon rừng không được ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế của Việt Nam về giảm phát thải khí nhà kính. Đặc biệt, kết quả giảm phát thải hoặc tín chỉ các-bon đã được chuyển nhượng sẽ không được tiếp tục giao dịch cho bên khác nhằm tránh tình trạng tính trùng hoặc giao dịch trùng lặp.
Nghị định quy định rõ quyền sở hữu kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân. Theo đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường là đại diện chủ sở hữu đối với các dự án các-bon rừng do cơ quan chuyên môn thuộc Bộ thực hiện; UBND cấp tỉnh là đại diện chủ sở hữu đối với các dự án do cơ quan chuyên môn cấp tỉnh triển khai; còn chủ rừng được sở hữu kết quả giảm phát thải và tín chỉ các-bon từ các dự án do mình thực hiện. Nguồn thu từ trao đổi, chuyển nhượng tín chỉ các-bon của các tổ chức chủ rừng được ưu tiên tái đầu tư cho công tác bảo vệ và phát triển rừng, hỗ trợ sinh kế cộng đồng, xây dựng dự án các-bon rừng, cũng như hoạt động đo đạc, báo cáo, thẩm định và phát triển cơ sở dữ liệu lâm nghiệp. Nghị định cũng cho phép chủ rừng hợp tác với các tổ chức, cá nhân để triển khai dự án các-bon rừng, thực hiện các hoạt động cấp tín chỉ và chia sẻ lợi ích từ kết quả giảm phát thải theo quy định hiện hành.
Xác định giá trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng
Nghị định yêu cầu với bên cung ứng dịch vụ hoặc đại diện chủ sở hữu đáp ứng các yêu cầu xây dựng, đăng ký dự án các-bon rừng; tổ chức đo đạc, báo cáo, thẩm định kết quả giảm phát thải; được cấp tín chỉ các-bon rừng theo quy định; thực hiện nghĩa vụ đóng góp kết quả giảm phát thải và các nghĩa vụ tài chính về thuế, phí, lệ phí (nếu có) theo quy định. Bên sử dụng dịch vụ đáp ứng các yêu cầu hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật về đầu tư, doanh nghiệp và pháp luật khác có liên quan của Việt Nam; thực hiện đúng nội dung theo hợp đồng quy định hoặc tuân thủ quy định của Chính phủ về sàn giao dịch các-bon trong nước và các sàn giao dịch các-bon khác; thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính về thuế, phí, lệ phí (nếu có) theo quy định.
Theo quy định, bên sử dụng dịch vụ trả tiền trực tiếp cho bên cung ứng dịch vụ theo hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch các-bon. Bên sử dụng dịch vụ trả tiền cho bên cung ứng dịch vụ ủy thác qua Quỹ Bảo vệ và phát triển rừng theo hợp đồng quy định hoặc trên sàn giao dịch các-bon. Nghị định quy định, mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng là số tiền được tính bằng Đồng Việt Nam trên 1 tấn CO2 hoặc 01 tấn CO2 tương đương hoặc 01 tín chỉ các-bon rừng. Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường quy định phương pháp xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon của rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân.
Giá trao đổi, chuyển nhượng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng được xác định thông qua hợp đồng hoặc trên sàn giao dịch các-bon được tính bằng đồng Việt Nam. Trường hợp chuyển nhượng ra nước ngoài, giá trao đổi, chuyển nhượng được tính bằng ngoại tệ theo quy định của pháp luật Việt Nam về quản lý ngoại hối. Mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng đối với rừng thuộc sở hữu toàn dân được xác định theo nguyên tắc bù đắp chi phí xây dựng, đăng ký, đo đạc, báo cáo, thẩm định, cấp, xác nhận kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng; hỗ trợ chi phí bảo vệ và phát triển rừng, hỗ trợ phát triển kinh tế; thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định. Bên cạnh đó, phải phù hợp với quan hệ cung - cầu và điều kiện thị trường tại thời điểm xác định mức chi trả dịch vụ hấp thụ và lưu giữ các-bon rừng. Việc xác định mức chi trả cũng theo nguyên tắc bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, tổ chức, cá nhân cung ứng và sử dụng kết quả giảm phát thải, tín chỉ các-bon rừng.
Trong lĩnh vực lâm nghiệp có 5 dịch vụ môi trường rừng (du lịch sinh thái, thủy điện, nước sạch, nuôi trồng thủy sản) đã có quy định rõ, chỉ còn dịch vụ lưu giữ các-bon là mảnh ghép cuối cùng để hoàn thiện khung pháp lý, giúp huy động nguồn lực tài chính cho người dân tham gia bảo vệ rừng. Bộ Nông nghiệp và Môi trường dự kiến hoàn thành việc thẩm định, cấp tín chỉ các-bon rừng cho năm 2021-2022 vào quý II năm 2026 và trình đề nghị cấp tín chỉ các-bon rừng cho giai đoạn 2023- 2025 vào quý III năm 2026.
Đỗ Phong, nguồn: https://vneconomy.vn/tin-chi-carbon-rung-duoc-ban-theo-hop-dong-tren-san-giao-dich-carbon-tu-157.htm, ngày 25/5/2026 (TN trích dẫn)