Tin tức >> Phát triển bền vững

Xây dựng mối liên kết đầu tư phát triển dự án các-bon rừng

02/11/2026

Việc liên kết giữa doanh nghiệp có tiềm lực tài chính với các chủ rừng có thể giúp hình thành nguồn cung tín chỉ các-bon quy mô lớn.
 


“Khủng hoảng niềm tin” trong liên kết chuỗi
Trong nền kinh tế thị trường, các hộ gia đình có đất, có sức lao động nhưng thiếu vốn và kỹ thuật; ngược lại, các doanh nghiệp chế biến và đầu tư có nguồn lực tài chính, công nghệ và thị trường tiêu thụ. Trên lý thuyết, sự kết hợp giữa hai bên sẽ tạo nên mô hình hợp tác lý tưởng để phát triển các dự án các-bon rừng. Tuy nhiên, thực tế đang diễn ra lại cho thấy sự thiếu vắng một sợi dây gắn kết bền chặt. Tại tọa đàm “Tín chỉ các-bon rừng: Từ tiềm năng đến hiện thực” do Báo Nông nghiệp và Môi trường tổ chức, TS. Tô Xuân Phúc, Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách thương mại lâm sản (Tổ chức Forest Trends) thẳng thắn chỉ ra thực trạng: Mối quan hệ giữa doanh nghiệp chế biến gỗ và các hộ trồng rừng hiện nay thực chất chỉ dừng lại ở các giao dịch mua - bán đứt đoạn thuần túy theo cơ chế thị trường, chưa thể coi là liên kết thực sự.
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến tình trạng này là sự “khủng hoảng niềm tin” giữa các bên liên quan. Phía nhà đầu tư khi bỏ vốn hỗ trợ người dân để họ kéo dài chu kỳ sống của cây rừng, họ băn khoăn làm thế nào để đảm bảo người dân tuân thủ cam kết? Liệu bà con có giữ rừng đến năm thứ 7, thứ 8 như thỏa thuận, hay khi thấy giá gỗ ngoài thị trường tăng cao lại tự ý khai thác và bán cho đơn vị khác? Ở chiều ngược lại, các hộ trồng rừng lo lắng rằng nếu không khai thác non mà giữ lại rừng thêm 2 đến 3 năm nữa, liệu khi cây đến tuổi khai thác, doanh nghiệp có thu mua đúng giá cam kết hay sẽ tìm cớ ép giá, bỏ rơi họ khi thị trường biến động? Nếu chỉ để thị trường tự vận hành mà không có sự ràng buộc mang tính pháp lý và cơ chế bảo hiểm rủi ro, mối liên kết rất dễ đổ vỡ. Cả doanh nghiệp lẫn người dân đều chọn giải pháp an toàn trong ngắn hạn, đẩy ngành lâm nghiệp vào vòng luẩn quẩn của việc khai thác non và không thể tạo ra tín chỉ các-bon. Không chỉ rừng của hộ gia đình, việc huy động vốn đầu tư tư nhân vào khối rừng sở hữu toàn dân (rừng do các đơn vị nhà nước quản lý) cũng đang đối mặt với những “nút thắt”.
Ảnh: Nguyễn Thắng
Theo TS. Vũ Tấn Phương, Giám đốc Văn phòng Chứng chỉ Quản lý rừng bền vững, khối rừng Nhà nước hiện bao gồm hệ thống các ban quản lý rừng phòng hộ, ban quản lý rừng đặc dụng, các vườn quốc gia, khu bảo tồn và các công ty lâm nghiệp. Mặc dù Nghị định số 180/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định tương đối chặt chẽ về mặt nguyên tắc, nhưng cơ chế cụ thể huy động vốn tư nhân vào khối rừng này vẫn chưa hoàn thiện. Khi đầu tư tạo tín chỉ rừng, có đơn vị lấy tín chỉ bù trừ hạn ngạch phát thải, có đơn vị vì mục tiêu thương hiệu, hoặc thuần túy vì lợi nhuận. Hiện tại, các văn bản quy định vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng về cơ chế chia sẻ lợi ích giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong trường hợp này. Bên cạnh đó, việc đầu tư vào rừng sở hữu toàn dân còn bị ràng buộc bởi các quy định khắt khe về định mức đầu tư công và trình tự quản lý tài sản công. Nếu những rào cản về cơ chế chia sẻ lợi ích và định mức đầu tư này không sớm được tháo gỡ, các doanh nghiệp dù có tiềm lực tài chính dồi dào cũng không thể mạnh dạn rót vốn vào các khu rừng đặc dụng hay phòng hộ.
Kiến tạo chuỗi giá trị đa mục tiêu
Để hóa giải nút thắt liên kết, các chuyên gia cho rằng cần có sự chuyển dịch mang tính chiến lược trong tư duy quản lý nhà nước. TS. Tô Xuân Phúc đề xuất, Nhà nước không nên chỉ can thiệp bằng các biện pháp hành chính mà cần sử dụng các công cụ kinh tế để khuyến khích doanh nghiệp liên kết với người trồng rừng trong dài hạn. Bài học từ ngành cà phê có thể áp dụng hiệu quả cho ngành lâm nghiệp: Nhà nước ban hành cơ chế cho phép doanh nghiệp cam kết đầu tư phát triển vùng nguyên liệu bền vững cùng người dân, đi kèm điều kiện bảo lãnh bao tiêu sản phẩm đầu ra với mức giá bằng hoặc cao hơn giá thị trường. Đổi lại, doanh nghiệp sẽ được ưu tiên bảo hộ quyền liên kết trên địa bàn mà không bị các đơn vị vãng lai vào tranh mua, bẻ gãy chuỗi cung ứng.
Trả lời câu hỏi về việc làm thế nào để tận dụng “mũi tên kép” trước các rào cản quốc tế khắt khe như Quy định chống mất rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), TS. Vũ Tấn Phương khẳng định các chủ rừng không nên tách rời từng mục tiêu đơn lẻ. Trên cùng một diện tích rừng, chủ dự án hoàn toàn có thể lồng ghép việc thực hiện chứng chỉ quản lý rừng bền vững (như FSC, PEFC) với mục tiêu phát hành tín chỉ các-bon và tuân thủ các quy định như EUDR. Tất cả các tiêu chuẩn này đều có những điểm chung cốt lõi: yêu cầu tính pháp lý rõ ràng về đất đai, bảo vệ đa dạng sinh học, giảm thiểu tác động môi trường, xác định tọa độ ranh giới minh bạch và trách nhiệm giải trình thông qua sự kiểm tra của một bên thứ ba độc lập.
Khi chủ rừng và doanh nghiệp lồng ghép các yêu cầu kỹ thuật vào chung một quy trình quản trị, họ không chỉ tiết kiệm được đáng kể chi phí điều tra, đo đạc và báo cáo, mà còn tạo ra cấu trúc “đa sản phẩm, đa lợi ích”. Rừng vừa cung cấp gỗ lớn có chứng chỉ với giá trị thương mại cao, vừa mang lại nguồn thu từ tín chỉ các-bon, đồng thời mở cánh cửa xuất khẩu sang các thị trường khó tính nhất thế giới. Khi bài toán lợi ích được giải quyết minh bạch và có hành lang pháp lý bảo vệ liên kết giữa các bên, “cái bắt tay” giữa doanh nghiệp với người trồng rừng sẽ tạo chuyển biến thực chất, đưa Việt Nam trở thành nguồn cung tín chỉ các-bon rừng quy mô và bền vững.
Khánh Ly – Quang Dũng, nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn/xay-dung-moi-lien-ket-dau-tu-phat-trien-du-an-cac-bon-rung-d838940.html, ngày 31/10/2026 (TN trích dẫn)

 

 



Quay về

THÔNG TIN LIÊN QUAN

Xem tất cả >>