Một nghị quyết đi vào đời sống bằng những việc rất cụ thể
Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại. Đối với một viện nghiên cứu gắn bó lâu dài với ngành cao su, việc cụ thể hóa tinh thần ấy không chỉ nằm ở đầu tư thêm phần mềm hay thiết bị, mà trước hết phải bắt đầu từ sự thay đổi trong cách lựa chọn và tổ chức nhiệm vụ. Mỗi nghiên cứu phải xuất phát từ yêu cầu thực tế của sản xuất; dữ liệu phải được chuẩn hóa để trở thành tài sản dùng chung; còn kết quả khoa học phải được lượng hóa, bảo hộ, hoàn thiện cơ sở pháp lý và chuyển giao vào sản xuất.
Bởi mỗi nhiệm vụ khoa học có một nhịp thời gian riêng: một chu kỳ chọn tạo giống cao su có thể kéo dài nhiều năm; một sản phẩm muốn đi vào thực tiễn phải lần lượt trải qua nghiên cứu, thử nghiệm, hoàn thiện tiêu chuẩn và thủ tục pháp lý; còn một hệ thống dữ liệu chỉ phát huy giá trị khi các đơn vị cùng cập nhật thống nhất và người sử dụng thực sự tin cậy. Chính trong những hành trình dài và nhiều mắt xích ấy, vai trò của tổ chức Đảng được thể hiện ở việc nhận diện đúng điểm nghẽn, kết nối các chuyên ngành, giao rõ người chịu trách nhiệm và kiên trì theo dõi đến kết quả cuối cùng. Hành trình đưa 12 giống cao su RRIV đến văn bằng bảo hộ là một minh chứng cụ thể cho cách tổ chức và lãnh đạo ấy.
Đọc “căn cước” của từng thân cây
Bộ sưu tập nguồn gen cao su tại Lai Khê có thể ví như một ngân hàng đặc biệt. Tài sản ở đây không nằm trong két mà sống trên đồng ruộng, hằng ngày chịu tác động của nắng, mưa, sâu bệnh và những biến động của thời tiết. Đến năm 2025, Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam (Viện) lưu giữ 3.805 mẫu nguồn gen, tăng 225 mẫu so với năm trước. Sau mỗi mã số là một nguồn vật liệu mang tiềm năng về năng suất, sinh trưởng, khả năng chống chịu hoặc chất lượng mủ để các thế hệ nghiên cứu tiếp tục khai thác. Nhưng khác với những tài sản thông thường, chỉ giữ được cây sống vẫn chưa đủ để bảo toàn giá trị của nguồn gen. Mỗi mẫu phải có lai lịch rõ ràng, hồ sơ chính xác, dữ liệu được cập nhật liên tục và lịch sử sử dụng có thể truy nguyên. Chỉ một hàng cây thiếu nhãn, một thông tin sai nguồn gốc hoặc một đợt theo dõi bị gián đoạn cũng có thể làm giảm giá trị của nhiều năm tích lũy. Vì vậy, bảo tồn nguồn gen không phải là một nhiệm vụ “tĩnh”, mà là quá trình quản trị một tài sản khoa học sống.
.jpg)
Cán bộ Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam cùng đoàn
chuyên môn kiểm tra, đối chiếu các đặc điểm
hình thái tại vườn khảo nghiệm DUS ở Lai Khê,
phục vụ đánh giá tính khác biệt, tính đồng nhất
và tính ổn định của các giống cao su
Chính yêu cầu quản trị ấy đã mở ra một cách tiếp cận mới trong tinh thần Nghị quyết 57: dữ liệu nguồn gen phải trở thành hạ tầng cho nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Mỗi mẫu cần một “hộ chiếu số” kết nối nguồn gốc, hình ảnh, đặc điểm hình thái, dữ liệu sinh trưởng, năng suất, khả năng chống chịu và lịch sử khai thác. Khi dữ liệu được chuẩn hóa, các nhóm chọn tạo giống, sinh lý khai thác, bảo vệ thực vật và đất – dinh dưỡng có thể cùng sử dụng một nền tri thức chung, hạn chế việc đo lặp và rút ngắn thời gian tìm kiếm vật liệu. Đó là chuyển đổi số bắt đầu từ nhu cầu thật của nghiên cứu, chứ không phải số hóa chỉ để hoàn thành một báo cáo. Từ kho nguồn gen và dữ liệu tích lũy ấy, những vật liệu có triển vọng được lựa chọn, khảo nghiệm và từng bước phát triển thành giống mới. Tuy nhiên, trước khi một giống được đề nghị bảo hộ, nó phải vượt qua khảo nghiệm DUS để chứng minh tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định. Cán bộ kỹ thuật phải theo dõi 27 tính trạng liên quan đến sinh trưởng và năng suất. Có những khác biệt rất nhỏ, chỉ biểu hiện rõ ở một giai đoạn sinh trưởng nhất định; vì thế, phán đoán chủ quan không thể thay thế bộ mô tả chuẩn, hình ảnh minh chứng và chuỗi số liệu được kiểm chứng.
Trải qua quá trình bảo tồn nguồn vật liệu, chọn tạo, khảo nghiệm và hoàn thiện hồ sơ, năm 2026, 12 giống gồm RRIV 1, RRIV 103, RRIV 106, RRIV 109, RRIV 114, RRIV 115, RRIV 209, RRIV 210, RRIV 218, RRIV 230, RRIV 232 và RRIV 301 đã được cấp văn bằng bảo hộ. Kết quả này vừa ghi nhận thành quả chọn tạo của Viện, vừa tạo cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền đối với giống, nâng cao trách nhiệm quản lý nguồn giống và mở đường cho việc khai thác, chuyển giao minh bạch. Đây cũng là nơi tinh thần đổi mới sáng tạo của Nghị quyết 57 gặp yêu cầu hoàn thiện và thi hành pháp luật của Nghị quyết 66 trong một kết quả có thể nhìn thấy, đo đếm và kiểm chứng. Để đi đến kết quả ấy là công sức nối tiếp của nhiều thế hệ: từ người tạo vật liệu lai, chăm sóc vườn thử nghiệm, cạo và cân mủ đến người phân tích số liệu, xây dựng căn cứ khoa học và hoàn thiện hồ sơ pháp lý. Mỗi người đảm nhận một phần việc, nhưng thành quả chỉ được tạo nên khi tất cả cùng được kết nối trong một mục tiêu chung. Đặc biệt, ở giai đoạn cuối, khi kết quả nghiên cứu cần được chuyển thành sự công nhận về mặt pháp lý, sự chỉ đạo, theo dõi tiến độ và tháo gỡ những vướng mắc về phối hợp của cấp ủy và người đứng đầu có ý nghĩa quyết định.
Từ dữ liệu tích lũy đến nền tảng đổi mới sáng tạo
Những dữ liệu phục vụ bảo hộ 12 giống RRIV mới chỉ là một phần trong kho tri thức được Viện tích lũy qua nhiều thập kỷ. Đó là dữ liệu về nguồn gen, phả hệ, khảo nghiệm giống, DUS, đất đai, dinh dưỡng, sinh lý mủ, sâu bệnh, chất lượng cao su, kết quả phân tích và hoạt động chuyển giao. Tuy nhiên, do được hình thành qua nhiều thế hệ, trên nhiều biểu mẫu và phương thức lưu trữ khác nhau, không ít dữ liệu vẫn nằm rải rác trong sổ tay, hồ sơ giấy, tệp cá nhân hoặc các cơ sở dữ liệu chưa liên thông. Khi đó, một tài sản có giá trị lớn lại bị chia nhỏ, khó khai thác và luôn đứng trước nguy cơ thất lạc.
Vì vậy, chuyển đổi số ở Viện trước hết không phải là mua thêm phần mềm, mà là chuẩn hóa nền dữ liệu đã có. Một tính trạng cần thống nhất về tên gọi và đơn vị; một mẫu vật phải có mã định danh xuyên suốt; dữ liệu gốc phải truy nguyên được; ảnh hiện trường cần gắn với thời gian, địa điểm và đối tượng; quyền cập nhật, khai thác và công bố cũng phải được xác định rõ ràng. Chỉ khi nền móng ấy được thiết lập, các công cụ phân tích, bản đồ số, bảng điều khiển hay trí tuệ nhân tạo mới có dữ liệu đủ sạch và đáng tin cậy để phát huy tác dụng.
Lộ trình ấy không nhất thiết phải bắt đầu bằng việc số hóa đồng loạt mọi hồ sơ. Viện có thể ưu tiên những bộ dữ liệu được sử dụng thường xuyên và có giá trị rõ nhất như hộ chiếu nguồn gen, dữ liệu DUS, kết quả khảo nghiệm giống, dữ liệu chẩn đoán mủ, dịch hại và chất lượng mẫu. Mỗi bộ dữ liệu phải có người chịu trách nhiệm, quy trình cập nhật và mục tiêu sử dụng cụ thể. Số hóa hồ sơ không phải là đích đến; điều cần đo là thời gian tra cứu được rút ngắn bao nhiêu, dữ liệu đã hỗ trợ lựa chọn vật liệu và ra quyết định như thế nào, hay đã mở ra thêm những câu hỏi nghiên cứu nào.
Đi cùng với khai thác là yêu cầu bảo vệ và chia sẻ dữ liệu đúng mức. Mở dữ liệu không có nghĩa là công khai tất cả, nhưng bảo mật cũng không đồng nghĩa với việc giữ dữ liệu trong một nhóm riêng lẻ. Viện cần phân định rõ dữ liệu nào là tài sản nội bộ, dữ liệu nào được chia sẻ trong Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam, dữ liệu nào có thể công bố cho cộng đồng khoa học và dữ liệu nào gắn với quyền đối với giống hoặc bí quyết công nghệ. Khi mỗi cán bộ có trách nhiệm với dữ liệu do mình tạo ra, kỷ luật dữ liệu cũng trở thành một phần của kỷ luật khoa học.
Nguyễn Vũ Ngọc Anh, Huỳnh Đức Định, Vũ Văn Trường, Phan Đình Thảo, Trần Đình Minh (Chi bộ Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Giống Cao su), nguồn: https://news.vrg.vn/ky-thuat/khi-nghi-quyet-57-ben-re-tren-nhung-vuon-cao-su/, ngày 03/9/2026 (TN trích dẫn)